TÂM LÝ XÃ HỘI CĂN BẢN – PHẦN 2: TÂM LÝ ĐÁM ĐÔNG, ẢNH HƯỞNG NHÓM VÀ SỰ PHỤC TÙNG

Stanley Milgram

Psychub xin tiếp tục gửi đến các bạn chuỗi bài viết 3 phần về các hiện tượng xã hội dưới góc nhìn của tâm lý học.

Kì trước chúng ta đã bàn đến hiện tượng quy gán cá nhân và quy gán hoàn cảnh.

Các bạn có thể đọc PHẦN 1: QUY GÁN

Kì này chúng ta sẽ tiếp tục tìm hiểu một hiện tượng thường xuyên xuất hiện trong tương tác xã hội hàng ngày: Ảnh hưởng của nhóm.

TÂM LÝ ĐÁM ĐÔNG, ẢNH HƯỞNG NHÓM VÀ SỰ PHỤC TÙNG

Gustave Le Bon và Tâm lý đám đông

Chắc hẳn khi nói đến ảnh hưởng của nhóm, nhiều bạn sẽ nghĩ ngay đến tác phẩm Đám đông (The crowd: A study of popular mind) của Gustave Lebon (1897). Không thể phủ nhận đây là một trong những tác giả đầu tiên nhắc đến hiện tượng nhóm xã hội trong tâm lý học.

Ông cho rằng có việc cá nhân bị đám đông ảnh hưởng gồm 3 giai đoạn: tràn ngập – submergence (cá nhân đánh mất nhân dạng và trách nhiệm trong đám đông), lây nhiễm – contagion (cá nhân dễ dàng nghe theo quyết định của đám đông) và ám thị – suggestion(cá nhân chia sẻ vô thức với đám đông). Ông kết luận rằng cá nhân trong đám đông đánh mất lý trí, hành động theo bản năng và đám đông sẽ dẫn đến hệ quả tiêu cực.

Một số vấn đề mà Gustave Le Bon đề xuất được tiếp tục phát triển bởi các nhà tâm lý sau này như Zimbardo hay Milgram. Tuy nhiên, giống như tất cả các lý thuyết tâm lý khác, nó tồn tại nhiều giới hạn và việc chỉ dựa vào một tác giả hay lý thuyết để kết luận vấn đề đều là thiếu khoa học và dễ gây nhầm lẫn. Các nhà tâm lý khác đã chỉ ra rằng, thay vì là một tập thể lớn vô thức, đám đông có thể được hình thành bởi các nhóm nhỏ có mục đích hỗ trợ nhau (Johnson, 1987); Gustave Le Bon chưa đánh giá đúng mức tính năng động của nhóm và động lực của cá nhân; Đồng thời ông cũng chú ý quá mức đến khía cạnh tiêu cực của đám đông (Reicher & Potter, 1985).

Asch và ảnh hưởng của nhóm

Solomon Asch (1951) đã thiết kế một nghiên cứu cho thấy cá nhân chịu ảnh hưởng của nhóm ra sao. Ông cho nghiệm thể vào trong một nhóm với các thành viên khác là các nhà tâm lý bí mật thủ vai. Nghiệm thể được thông báo đây là một nghiên cứu về khả năng nhận thức thị giác và được yêu cầu so sánh chiều dài của một đoạn thẳng mẫu với 3 đoạn thẳng khác. Các thành viên khác trong nhóm (do các nhà khoa học đóng giả) liên tục đưa ra các đáp án sai giống nhau. Ban đầu, nghiệm thể lựa chọn đáp án đúng khác với nhóm nhưng sau một vài câu hỏi, họ bắt đầu lựa chọn theo ý kiến chung của nhóm. (Các bạn có thể xem clip về thực nghiệm này tại: https://www.youtube.com/watch?v=qA-gbpt7Ts8).

Khi là thành viên của một nhóm, chúng ta sẽ có xu hướng đưa ra những quyết định và hành vi giống với nhóm để làm giảm lo âu do mẫu thuẫn với nhóm mang lại (Allen & Wilder, 1977).  Mâu thuẫn bao gồm hai loại ảnh hưởng: Ảnh hưởng quy tắc xã hội – chúng ta nghĩ rằng mình chưa làm đúng quy tắc của nhóm và Ảnh hưởng thông tin xã hội – chúng ta cho rằng nhóm luôn mang lại thông tin chính xác (Deutsch & Gerard, 1955). Ví dụ, một nhân viên mới vào làm thấy các nhân viên khác trong công ty đều mặc áo sơ-mi, dù công ty không có quy định cụ thể nhưng nhân viên mới vẫn cảm thấy phải làm theo các nhân viên cũ vì sợ rằng mình không làm đúng quy tắc xã hội hay sợ rằng có những thông tin quy định khác mà mình không biết.

Lý thuyết về so sánh xã hội (social comparison theory) cho rằng cơ chế của ảnh hưởng nhóm gồm 3 bước:

(1) đánh giá khả năng và tính chính xác của bản thân,

(2) so sánh với ý kiến của nhóm

(3) tuân theo hay kháng cự trước ảnh hưởng của nhóm (Festinger, 1954).

Ví dụ, khi trong nhóm có bất đồng, bạn sẽ tự xem xét khả năng và ý kiến của bản thân, sau đó bạn cân nhắc khả năng, tính xác thực trong ý kiến của các thành viên khác trước. Cuối cùng bạn sẽ quyết định nên giữ ý kiến của mình hay tuân theo nhóm. Nghiên cứu cho thấy mức độ bạn tin tưởng vào quyết định của bản thân sẽ giả nếu nhóm không đồng tình với ý kiến của bạn đưa ra, dẫn đến tăng khả năng chịu ảnh hưởng nhóm trong tương lai (Allen & Wilder, 1977).

Những yếu tố làm tăng sức mạnh của ảnh hưởng nhóm bao gồm (Feldman & Garrison, 1993):

  • Sự tự tin và khả năng của cá nhân
  • Kích cỡ nhóm và sự đồng lòng của nhóm
  • Sự ngưỡng mộ hay quan tâm giành cho nhóm
  • Cá nhân chưa có cam kết với các lựa chọn nào khác từ trước
  • Các thành viên khác trong nhóm theo dõi, quan sát cá nhân

Ngoài ra còn một số yếu tố khác như:

  • Tầm quan trọng của quyết định. Cá nhân thường làm theo nhóm khi phải đưa ra các quyết định quan trọng (Baron, Vandello, & Brunsman, 1996)
  • Văn hóa ủng hộ quy luật nhóm. Ảnh hưởng nhóm cũng yếu hơn trong các nền văn hoá cá nhân (Bond, & Smith, 1996)
  • Các nghiên cứu khác trong tâm lý nhận thức và thần kinh còn cho thấy chúng ta còn chịu ảnh hưởng của nhóm thông qua việc tự động bắt chước hành vi trong nhóm (Hartup & Coates, 1967), lây lan cảm xúc (Hatfield, Cacioppo, & Rapson, 1994) hay dưới tác động của não bộ (Klucharev, Munneke, Smidts, & Fernández, 2011; Stallen, Smidts, & Sanfey, 2013).

Tuy nhiên, không phải vì những vấn đề trên mà chúng ta tránh né việc tham gia nhóm hay làm việc nhóm. Nghiên cứu cho thấy nhóm giúp tăng tính đa dạng trong giải pháp và ý kiến, sự có mặt của người khác cũng làm tăng hiệu xuất hoạt động (Michaelsen, Knight, & Fink, 2004). Blinder & Morgan (2000) còn cho thấy nhóm hoạt động hiệu quả hơn không những với hiệu suất trung bình mà còn hơn hiệu suất của cá nhân xuất sắc nhất.

Milgram, Zimbardo và sự phục tùng

Trong một trong những thực nghiệm nổi tiếng nhất trong tâm lý học xã hội là thực nghiệm của Milgram (1963). Trong thực nghiệm này, nghiệm thể A được cho biết đang tham gia vào một nghiên cứu làm tăng khả năng học tập. A sẽ điều khiển một loạt các công tắc điện từ 15 đến 450 volt được nối với một nghiệm thể B trong một phòng khác. A chỉ nghe được tiếng của B qua hệ thống âm thanh mà không thấy được mặt. B sẽ phải nhớ một loạt các thông tin và sau đó phải trả lời một loạt các câu hỏi về những thông tin đó. Nếu B trả lời sai, A sẽ bật công tắc để cho luồng điện tương ứng tác động tới B. Với mỗi câu trả lời sai của B, A sẽ phải nâng cường độ điện lên một mức cao hơn. Ở cùng phòng với A còn có một chuyên gia mặc áo blouse trắng và ghi nhận thông tin. (Các bạn có thể xem clip về thực nghiệm này tại: https://www.youtube.com/watch?v=yr5cjyokVUs).

Với các câu hỏi sai ban đầu A sẽ nghe thấy tiếng la nhẹ. Dần dần mức độ đau đớn sẽ được tăng lên, A sẽ nghe B van xin dừng lại. Người trong nhóm nghiên cứu có mặt tại phòng sẽ yêu cầu A tiếp tục vì mục đích nghiên cứu và đảm bảo tính mạng B sẽ không bị tổn hại. Sau hơn một nửa mức cường độ điện, B không còn phát ra tiếng động. Điều A không biết là B hoàn toàn không tồn tại, mọi âm thanh mà A nghe được từ B đều được ghi âm từ trước.

Kết quả cho thấy trên 60% các nghiệm thể vẫn tiếp tục bật các công tắc điện cho đến mức tối đa, 450V, mức điện có thể gây chết người. Nhiều người trong số các nghiệm thể tỏ ra lo lắng, phản kháng. Một số không đồng ý tiếp tục nhưng phần đông vẫn thực hiện mệnh lệnh của chuyên gia.

Các nghiên cứu khác còn cho thấy mức độ phục tùng còn cao hơn khi nghiệm thể không trục tiếp bấm công tắc mà chỉ phải ra quyết định.

Tỉ lệ phục tùng theo mức điện thế tăng dần

Nghiên cứu này đặt ra câu hỏi về xu hướng phục tùng của con người, ngay cả khi biết mình có thể gây ra tổn hại đến người khác. Các nghiên cứu tương tự thực hiện trên nhiều nhóm dân số khác đều cho kết quả tương tự (Blass, 2009).

Milgram (1963) kết luận một số yếu tố sau làm tăng tính phục tùng của nghiệm thể:

  • Uy tín, vị thế của tổ chức.
  • Mục đích nghiên cứu được mô tả là rất quan trọng
  • Nghiệm thể tự nguyện tham gia và có cam kết với nghiên cứu
  • Trước khi bắt đầu thực nghiệm, nhóm nghiên cứu giả vờ bốc thăm chọn vị trí của A và B nên làm giảm sự nghi ngờ của A
  • Nghiệm thể không biết quyền hạn của nhóm nghiên cứu và nghiệm thể B nên tin tưởng vào quyết định của chuyên gia
  • Nghiệm thể liên tục được đảm bảo rằng B không gặp nguy hiểm

Nghiên cứu này gây chấn động tại Mỹ vào thời điểm đó khi chứng minh rằng người Mỹ hoàn toàn có khả năng gây ra những tội ác như Phát xít Đức đã từng thực hiện.

Trong một nghiên cứu khác, Zimbardo (1973) chọn ngẫu nhiên hai nhóm sinh viên phân vào hai nhóm đóng vai tù nhân và cai ngục. Các cai ngục được phát đồng phục, gậy, còi và huấn luyện về luật lệ trong trại giam. Nhóm tù nhân thì bị cảnh sát tới tận nhà bắt đi, mặc áo tù, trải qua đầy đủ các thủ tục giam giữ, bị gọi bằng mã số tù nhân và phải ở trong các buồng giam mô phỏng thực tế. Chỉ sau hai ngày, các sinh viên tham gia đã nhập vai như thật, thật hơn mức cần thiết. Các cai ngục bắt đầu lăng mạ, tra tấn, quấy nhiễu tù nhân. Các tù nhân cũng bắt đầu phản kháng, nổi loạn và suy sụp. Dù nghiên cứu dự định diễn ra trong nhiều tuần nhưng chỉ sau 6 ngày, Zimbardo buộc phải kết thúc. (Các bạn có thể xem thêm về thực nghiệm này tại https://www.youtube.com/watch?v=sZwfNs1pqG0).

Kết quả nghiên cứu cho thấy tầm quan trọng của hoàn cảnh và vai trò xã hội được giao đối với hành động của cá nhân. Nghiên cũng chứng minh cho lý thuyết Hoà hợp Nhận thức (cognitive dissonance theory) của Festinger (1962), chúng ta có xu hướng làm giảm sự khác biệt trong chính nhân thức của bản thân để tránh căng thẳng. Trong trường hợp này là thay đổi nhận thức để phù hợp vơi hành vi.

Cả hai nghiên cứu trên đều cho thấy những con người phát triển bình thường nhất cũng có thể thay đổi hành vi và hành xử tiêu cực khi chịu ảnh hưởng từ môi trường. Như vậy, dưới áp lực của nhóm và xã hội, việc chúng ta hành động trái với các nguyên tắc đạo đức là hoàn toàn có thể xảy ra.

Vậy đâu là mối liên hệ và cơ chế giữa áp lực nhóm, sự phục tùng và hành vi tội ác? Làm cách nào để chúng ta đối mặt với nguy cơ này? Và đâu là lợi ích của lòng nhân ái và hoà giải?

Phần 3, “Cái ác và lòng nhân ái”, sẽ trả lời câu hỏi này.

 

Tài liệu tham khảo

Asch, S.E. (1951). Effects of group pressure on the modification and distortion of judgments. In H. Guetzkow (Ed.), Groups, leadership and men (pp. 177–190). Pittsburgh, PA:Carnegie Press.

Allen, V. L., & Wilder, D. A. (1977). Social comparison self-evaluation and conformity to the group.

Baron, R. S., Vandello, J. A., & Brunsman, B. (1996). The forgotten variable in conformity research: Impact of task importance on social influence. Journal of Personality and Social Psychology, 71(5), 915.

Blass, T. (2009). From New Haven to Santa Clara: A historical perspective on the Milgram obedience experiments. American Psychologist, 64, 37–45.

Blinder, A. S., & Morgan, J. (2000). Are two heads better than one?: An experimental analysis of group vs. individual decisionmaking (No. w7909). National Bureau of Economic Research.

Bond, R., & Smith, P. B. (1996). Culture and conformity: A meta-analysis of studies using Asch’s (1952b, 1956) line judgment task. Psychological Bul- letin, 119, 111–137. (p. 683)

Deutsch, M., & Gerard, H. B. (1955). A study of normative and informational social influences upon individual judgment. The journal of abnormal and social psychology, 51(3), 629.

Feldman, R. S., & Garrison, M. (1993). Understanding psychology (10th ed.). New York, NY: McGraw-Hill.

Festinger, L. (1954). A theory of social comparison processes. Human relations, 7(2), 117-140.
Festinger, L. (1962). A theory of cognitive dissonance (Vol. 2). Stanford university press.

Hatfield, E., Cacioppo, J. T., & Rapson, R. L. (1994). Emotional contagion. Cambridge university press.

Hartup, W. W., & Coates, B. (1967). Imitation of a peer as a function of reinforcement from the peer group and rewardingness of the model. Child development, 1003-1016.

Klucharev, V., Munneke, M. A., Smidts, A., & Fernández, G. (2011). Downregulation of the posterior medial frontal cortex prevents social conformity. The Journal of Neuroscience, 31(33), 11934-11940.

Johnson, N. R. (1987). Panic at” The Who concert stampede”: An empirical assessment. Social Problems, 362-373.

Le Bon, G. (1897). The crowd: A study of the popular mind. Fischer.

Michaelsen, L. K., Knight, A. B., & Fink, L. D. (2004). Team-based learning: A transformative use of small groups in higher education.

Milgram, S. (1963). Behavioral study of obedience. The Journal of abnormal and social psychology, 67(4), 371.

Reicher, S., & Potter, J. (1985). Psychological theory as intergroup perspective: A comparative analysis of “scientific” and “lay” accounts of crowd events. Human Relations, 38(2), 167-189.

Stallen, M., Smidts, A., & Sanfey, A. G. (2013). Peer influence: neural mechanisms underlying in-group conformity. Frontiers in human neuroscience, 7.doi:10.3389/fnhum.2013.00050

Zimbardo, P. G. (1973). On the ethics of interven- tion in human psychological research: With special reference to the Stanford Prison Experiment. Cognition, 2, 243–256.

Có thể bạn quan tâm

THÔNG ĐIỆP NHÂN NGÀY SỨC KHỎE TINH THẦN THẾ GIỚI

Trong tâm lý học có khái niệm ‘window of tolerance’ nghĩa là một cái

12 HỘI CHỨNG VÀ HOANG TƯỞNG TÂM THẦN KỲ LẠ NHẤT

Hoang tưởng có thể xuất hiện với nhiều kích thước và hình dáng khác

TÂM LÝ XÃ HỘI CĂN BẢN – PHẦN 1: QUY GÁN

Con người có mong muốn giải thích được mọi việc xung quanh mình để

NGHIÊN CỨU CHO THẤY ROBOT ĐỒ CHƠI CÓ THỂ GIÚP TRẺ TỰ KỶ HỌC CÁC KỸ NĂNG MỚI

Các bé sẽ được thúc đẩy qua những nhiệm vụ thường nhật, được huấn

5 ĐIỀU KHIẾN BẠN HỐI TIẾC NHẤT VỀ SỰ NGHIỆP CỦA MÌNH

Hối tiếc cũng có vị trí rất quan trọng trong đời chúng ta. Ta

LÃNH ĐẠO TIÊU CỰC GÂY ẢNH HƯỞNG ĐẾN TẬP THỂ VÀ NĂNG SUẤT

Một nghiên cứu mới được các nhà nghiên cứu kinh doanh tại ĐH Bang